Để
hiểu biết thêm về Xứ Ba Làng, chúng tôi xin giới
thiệu và trích đăng hai tài liệu quư giá của hai
tác giả Trường Thanh và Nguyễn Đức Thịnh
đă đăng trên nội san “Ba Làng Choa – (Nha Trang -
Hải Ngoại)” (tập san số ? và số 13). Trong khi
cho đăng nguyên văn, chúng tôi chỉ ghi chú những
điểm nhỏ hoặc bất đồng, hoặc ghi
thêm chi tiết cho rơ ràng hơn.
Tài
liệu 1: của Trường Thanh.
LỊCH SỬ DÂN XỨ BA LÀNG - THANH HÓA
I- NGUỒN GỐC BA LÀNG
Trước khi t́m hiểu về nếp sinh hoạt
cũng như tinh thần của một dân xứ,
thiết tưởng chúng ta nên t́m hiểu địa danh và
những ǵ gây ảnh hưởng nơi địa danh
ấy.
Cửa Bạng là tên của một cửa sông (từ
sông thông ra biển) và cũng là địa danh của
một vùng nằm về phía đông quận Tỉnh Gia,
tỉnh Thanh Hoá. Bắc giáp núi Thủi, núi này ngày xưa
gọi là ḥn Nỏ v́ giống như h́nh một chiếc
nỏ. Bên kia núi Thủi là làng Chay, nằm về phía Tây
Bắc là làng Khoa Giáp; Tây giáp con sông Bạng, bên kia sông là làng
Bạng, làng Thanh Vân, làng Khánh, làng Du Độ, làng Như
Áng; Nam giáp núi Do, nơi đây có lạch thông ra biển.
Cửa Bạng được kể từ núi Thủi
tới núi Do, trên con đường dài 3 cây số ngàn,
giới hạn từ sông Bạng tới bờ biển
rộng 600 mét.
Ai đă có dịp đặt chân tới cửa Bạng
không khỏi ngạc nhiên; khi đứng trên cao nh́n
những ngọn núi Mê, núi Bung, núi Miệng trầm mặc,
và giăng hàng giữa một đại dương
rộng bát ngát, như bức tường thành vĩ
đại chận làn sóng dữ đang bủa thẳng vào
bờ. Lui dần vào là mũi Biện Sơn, một
quả núi giống h́nh con Thanh Long Đao đâm ngang ra
biển, nơi đây, cũng là nơi nương náu
của những thuyền bè bị sóng gió băo táp. Đi vào
trong đất liền, bên kia sông Bạng là núi Thề
Nguyền, một ngọn núi thấp, trên núi c̣n để lại
dấu vết của gót chân Hai Ông Tiên và một bàn cờ
tướng. Vùng này cũng là quê hương Đào Duy
Từ; danh tướng của chúa Nguyễn, tác giả bài
Ngoạ Long Cương và chiến luỹ Trường
Dực, nổi danh trong lịch sử cận đại.
Xa hơn nữa, ngọn núi Nam Lặng hùng vĩ ngạo
nghễ, nằm trong dăy Trường Sơn, như
đứng trông coi cả một vùng rộng lớn.
Ngọn núi Nam Lặng c̣n là kim chỉ Nam cho ngư dân trong
những lúc lạc hướng lênh đênh trên biển
cả.
Từ nơi non nước hữu t́nh và hùng vĩ
ấy, đă từng chứng kiến bao cảnh
đổi thay của cuộc thế và cũng là nơi có
một lịch sử Đạo Thiên Chúa vào bực
tiền phong của dân Việt Nam.
Theo linh mục Jos. Trần Cường Tráng th́ cố
Đắc Lộ (Alexandre De Rhodes) được lệnh
đi giảng đạo ở Đàng Trong, nhưng trên con
đường vượt trùng dương vào Nam,
thuyền của Cố bị phong ba nổi lên và đánh
bạt vào một cửa bể gọi là Lạch Bạng.
Ở đây dân chúng tuôn ra xem rất đông và ṭ ṃ muốn
biết thuyền của vị tu sĩ ngoại quốc
chở ǵ. Cố Alexandre lợi dụng cơ hội
tốt liền nói: "Thuyền của chúng tôi chở
một thứ ngọc rất quư, giá bán lại rẻ ai
cũng có thể mua được và sẽ trở nên
giầu có phú quư".
Họ liền xin xem thứ ngọc ấy.
Cố bảo: "Đá ngọc ấy, con mắt xác
thịt không thấy được, phải dùng trí khôn suy
xét mới thấy được. Đá ngọc ấy là
đạo dậy cho ta biết thờ phượng
Đấng đă dựng nên vũ trụ muôn loài.
Đấng ấy ta quen gọi Ngài là Ông Trời."
Liền sau đó, hai đàn anh trong dân xin học
Đạo và ngay sau đó được chịu phép
Rửa Tội.
Vùng ấy, c̣n có một thầy phù thủy
thường bị ma qủy khuấy phá, ông đă dựng
bàn thờ trong nhà để thờ ma qủy, nhưng chúng
vẫn cứ quấy nhiễu luôn, nên ông đến xin
học Đạo Ông Trời và nhờ Ông Trời
đuổi qủy đi cho. Cố Alexandre bảo ông
lập một bàn thờ giữa nhà, trên bàn thờ dựng
một cây Thập Giá. Kể từ đó, nhà ông không bao
giờ bị ma qủy hoành hành gây rối nữa. Thấy
vậy, dân chúng cửa Bạng theo đạo rất
đông. (Viết theo lịch sử Địa phận Thanh
Hoá trang 5,6) Đạo Công Giáo được truyền vào
cửa Bạng ngày 19-3-1627 năm Đinh Măo.
Sau đó một thời gian khá lâu, một biến
cố xẩy ra: Dân Du Xuyên, tục gọi là làng Do, một
làng ở ngay cửa Lạch Bạng, sống về
nghề chài lưới và buôn bán nước mắm,
mức sống nghèo nàn, gần một nữa dân làng theo
đạo Công Giáo, nữa c̣n lại theo đạo
Phật và thờ cúng tổ tiên, thường đến
ngày Giỗ Chạp, hay làm cỗ bàn cúng tế, lễ bái.
Những người theo đạo Thiên Chúa, v́ không c̣n tin
tưởng bụt thần, thường hay nếm, ăn
trước những đồ cúng tế, nên sau đó
một cuộc căi lộn xảy ra. Và cũng từ đó,
dân Du Xuyên được chia làm đôi. Những
người theo đạo Thiên Chúa, v́ không muốn cảnh
"cơm không lành, canh không ngọt" bên những
người không cùng một tôn chỉ, một lư
tưởng, nên đă dời cư về một mảnh
đất trống, ở phía Bắc chiếm cứ
mảnh đất hoang vu, dần dần biến nơi này
thành làng trù phú và thơ mộng.
Danh từ Ba Làng là do sự gọi tắt của Ba ngôi
làng: Sung Măn - Ngoại Hải - Như Xuân, toạ lạc
trên một mảnh đất h́nh cong như chiếc vơng
rộng chừng 600 mét và dài 2000 mét. Bắc giáp núi Thủi,
Đông giáp biển, Tây giáp sông Bạng, Nam giáp Du Xuyên (Núi Do)
Ba Làng như vơng đ̣n cong
Hai anh Do Thủi đang c̣ng lưng khiêng.
(LM P. Nguyễn Dương Hiến)
Theo các cụ già kể lại th́: Mảnh đất Ba
Làng trước kia là một băi đất hoang vu, mọc rất
nhiều bụi dứa dại, nên thường gọi là
băi dứa và chưa có nhà cửa ǵ cả, nhưng sau
vụ xích mích giữa anh em làng Du Xuyên - và cũng v́ lư do
nghề nghiệp (nghề đánh cá dọc bờ biển)
một số người thuộc làng Du Xuyên đă di
chuyển dần về hướng Bắc, lập nên
một "cḥm", cḥm này một ngày một thêm đông v́
dân Cửa Ḷ Nghệ An cũng v́ sinh kế ra đó lập
nghiệp và nhất là trong thời kỳ bắt
đạo của các vua nhà Nguyễn, cḥm này là nơi
nương náu của những người Công Giáo Nghệ
An Hà Tĩnh và các miền lân cận. V́ dân số tăng mau
và cũng v́ không muốn phụ thuộc vào làng Du Xuyên
nữa, bô lăo làng này đă xin tách biệt thành một làng
mới lấy tên Bồng Doanh (tức làng Danh hay làng Sung Măn
bây giờ).
Làng Như Xuân, theo khẩu truyền: Hồi Chúa
Nguyễn Ánh chưa thống nhất được sơn
hà, nhiều lần mang quân ra Bắc để đánh nhà
Tây Sơn. Nhưng có một lần v́ gió Đông thổi
mạnh và cũng v́ bị quân Tây Sơn phản công,
thuyền Chúa Nguyễn phải quay trở lại vào
một làng sau mũi Biện Sơn ẩn nấp. Làng mà
thuyền Chúa Nguyễn ghé vào, sau được Chúa Nguyễn
đặt tên cho làng Đông Hồi (có nghĩa là quay
trở lại v́ gió Đông).
Làng Như Áng có một vị, tục gọi là ông
Quận Ḥ đă có nhiều công giúp Chúa Nguyễn đánh Tây
Sơn nên sau khi thống nhất đất nước
(1802) Chúa Nguyễn có trở lại làng Đông Hồi và
thăm một vài làng lân cận. Tiện dịp may hiếm
có, ông Quận Ḥ có xin vua một ân huệ: Nguyên làng Như
Áng, một ngôi làng bên kia sông Bạng, v́ đất chật
người đông và cũng v́ nạn xâm thực của
lạch Bạng, nên một số gia đ́nh không có nhà
cửa để ở. Cảnh đói rách và không nhà
cửa đă làm cho Quận Ḥ phải đau ḷng và đánh
liều đến xin vua giúp đỡ cho làng ḿnh. Nhà vua y
cho và từ đó một số đông dân Như Áng sang
lập nghiệp ở mảnh đất giữa làng
Bồng Doanh và Du Xuyên tục gọi là thôn Như Xuân
(vẫn phụ thuộc vào làng Như Áng, tổng Tuần
Lá, phủ Tỉnh Gia, tỉnh Thanh Hóa). Măi đến
đời ông lư trưởng Hỹ (khoảng năm 1915)
làng mới được chính thức biệt lập, do
cha già Sỹ đứng lo liệu phân làng.
Làng Ngoại Hải trước kia là một
phường, gồm toàn những người đánh cá
gần bờ (đẩy xúc chân và lưới me) thuộc
làng Lệ, làng Lau (gần làng Sầm Sơn bây giờ), làng
Khoa Giáp. Họ làm những cḥi lá nhỏ để trú chân
trong những ngày mùa cá, hết mùa họ lại trở
về làng cũ cày ruộng thuê hoặc làm các việc khác.
Nhưng cảnh sống ở làng cũ cũng không có ǵ
dồi dào nên không có sức quyến rũ và giữ chân
họ lại. Họ đành phải tha phương
cầu thực, dần dần họ thiết lập
được một phường ở hẳn trên
mảnh đất giữa Bồng Doanh và Núi Thủi.
Hằng năm phải đóng thuế cho làng Doanh. Về
sau dân cư một ngày một thêm đông, phường đó
mới chính thức được phân thành làng Ngoại
Hải.
Trong thời kỳ bắt đạo của vua Tự
Đức (1848-1883) và thời quấy phá của phong trào
Văn Thân (1888-1913) các làng cứ một ngày một thêm
đông v́ dân cư Công Giáo ở các miền lân cận và
nhất là vùng Nghệ An, Hà Tỉnh về đó trú ẩn
và khi thái b́nh, đă lập nghiệp luôn ở đó.
II- THỜI KỲ BẮT ĐẠO VÀ PHONG TRÀO VĂN
THÂN
Tuy là dân tứ chiếng nhưng mọi người
đều có một tôn chỉ và một tôn giáo: 'Công Giáo'
nên dể thông cảm và đoàn kết. Dân Ba Làng đă
hơn một lần trốn tránh các cuộc bắt bớ
v́ Đạo cũng như chống lại những
cuộc tàn phá của Văn Thân.
Ta hăy lắng nghe một đoạn vè của
người Ba Làng nói về cuộc bắt đạo
của vua Tự Đức:
Từ năm Thiệu Trị băng hà,
Để vua Tự Đức ngự toà thong dong,
Ắt là cấm đạo ngặt ngùng,
Con chiên bổn đạo lùng tốtng ra đi.
......................
Khốn thay con trẻ lên năm,
Bồng bế đi tháp một năm bảy chầy.
Cho nên tớ mới bỏ thầy,
Triều đ́nh Văn Vơ có hay chăng là?
Thập ác giả làm tượng ngà,
Bắt bổn đạo bước thật là
chẳng nên....
.......................
Cuộc bắt đạo diễn ra trong nhiều
năm, nhưng không mấy ai c̣n nhớ rơ và cũng không
thấy nói đến các vị tử đạo ở
đấy. Theo các cụ già c̣n sống sót th́ khi các cụ
có trí khôn, các cụ vẫn c̣n thấy rất nhiều
người già cả bị khắc hai chữ 'TẢ
ĐẠO' vào hai bên má. Những người này bị vua
quan ghép vào tội theo đạo tà (!) Khắc hai chữ
chàm vào má và bắt giam nhiều nơi gọi là 'phân tháp',
dân Ba Làng thường bị giam ở một khu trại
rất rộng, chung quanh rắp chông gai, ở trên băi cát
của làng Cao Lư, Ngọc Đường cách xa cửa
Bạng lối năm cây số về phía Nam. Những
người đi tháp ban ngày được đi làm công
tác hoặc ra ruộng mót các củ khoai thừa, nhưng có
nhiều lính đi kèm. Ban đêm thường bị cùm
kẹp. Măi đến năm 1883, sau khi triều đ́nh nhà
Nguyễn kư hoà ước Quư Mùi với người Pháp,
công nhận người ngoại quốc được
quyền giảng đạo trên đất Việt Nam, khi
đó việc cấm đạo mới thôi. Những
người bị tù đày và bị phân tháp
được trở về quê cũ làm ăn.
.................
Chúa Trời sai Thánh cứu loài người ta,
Bỗng đâu phép lạ Đức Bà,
Liền phá sự dữ cho ta được về,
Lại hoàn chốn cũ như quên,
Cha con đâu đó lại về cùng nhau,
Trên th́ rộng mở cửa Mầu,
Dưới th́ sinh ngă để sau nối đời.
(vè vua Tự Đức bắt đạo)
Cuộc binh biến ở Huế đêm mùng 4 tháng 7
năm 1885 (Ất Dậu) triều đ́nh Huế bất
thần tấn công quân đội Pháp ở đồn Mang
Cá cửa Thuận An. Sáng mùng 5 tháng 7 Quân đội Pháp
phản công. V́ khí giới thô sơ và cũng v́ kỷ
thuật chiến đấu kém, Tôn Thất Thuyết và
Nguyễn Văn Tường đành phải rút lui và
đưa xa giá vua Hàm Nghi ra miền trung lánh nạn, lập
chiến khu chống Pháp. Dọc đường v́ không
chịu được gian khổ, Nguyễn Văn
Tường và bà Thái Hậu quay trở lại đầu
hàng Pháp.
Ở Ấu Sơn, Hà Tỉnh, vua Hàm Nghi đă ban
bố hịch Cần Vương (kể tội Pháp và ra
lệnh cho các sĩ phu chịu gian khổ giúp vua cứu
nước). Nhưng sau 3 năm cầm đầu phong trào
Cần Vương, đêm mùng 1 tháng 11 năm 1888, vua Hàm Nghi
bị tên tướng Mường là Trương Quang
Ngọc bắt nộp cho Pháp, phong trào Cần Vương
tan ră.
Vua Hàm Nghi bị bắt và bị đày sang Algerie, Pháp bầu
một vị vua khác lên thay là vua Đồng Khánh. Vua
Đồng Khánh xuống chiếu kêu gọi các nhà ái
quốc hạ khí giới và kết tội phản
nghịch những người tiếp tục chống
Pháp.
Thấy hai chữ Cần Vương không c̣n chính
nghĩa và thu hút được nhân dân nữa, một
số sĩ phu ái quốc như: Phan đ́nh Phùng, Hoàng hoa
Thám, Nguyễn thiện Thuật v.v...... đă đồng ư
dùng khẩu hiệu Văn Thân để tiếp tục
chiến đấu. Phong trào Văn Thân xuất hiện
từ đó (1888-1913). Văn Thân là phong trào của những
người chữ nghĩa, học thức nổi lên
chống Pháp.
Mục tiêu của cuộc ra quân của Phan đ́nh Phùng
là mấy làng Công Giáo vùng Hà Tỉnh, Nghệ An. Nguyên do trong
tối hôm đó trước có một người v́ ṭ ṃ
đứng gần đồn binh của họ Phan, sau
bị nghĩa quân truy lùng, người đó chạy vào
một làng Công Giáo gần đó. Thế là mối nghi
ngờ người Công Giáo làm tay sai cho Pháp, đi ḍ thám t́nh
h́nh đồn nghĩa quân được dư luận
thổi phồng. Từ đó, người Công Giáo
được xem như là kẻ thù của phong trào và
cuộc ra quân đầu tiên của họ Phan là tiêu
diệt hoàn toàn hai ngôi làng của người Công Giáo vùng Hà
Tĩnh.
Noi gương Phan đ́nh Phùng các sĩ phu khắp
nơi cũng v́ tinh thần chống Pháp một cách cực
đoan đă tuyên chiến với người Công Giáo
một cách tích cực, v́ có óc tôn giáo hẹp ḥi.
Bị lôi cuốn theo ḍng lịch sử, dân Ba Làng dù
không thích ǵ người Pháp, dù có tinh thần yêu nước
cao độ, nhưng cũng phải giữ mạng
sống trước nhất. Hơn nữa trong cuộc
bắt đạo vừa qua, người dân ngoại
đă gán cho người Công Giáo đi đôi với
người thực dân Pháp. Nên họ có một quan niệm
không mấy tốt đẹp với người Công Giáo.
Bởi vậy, khi nghe Văn Thân có thể về làng
để tàn phá, giết chóc, là người Công Giáo
chuẩn bị, liều chết nghinh chiến. Tuy trong thâm
tâm người Công Giáo Ba Làng, vẫn một ḷng kính
trọng và biết ơn những người lănh
đạo phong trào Văn Thân, v́ họ đă biết
xả thân cho tổ quốc, nhưng không biết phân
biệt bạn hay thù.
Dân Ba Làng là một dân toàn ṭng Công Giáo và phải nói là
một dân rất hiền lành, họ rất sợ Văn
Thân quấy phá. Họ tổ chức rào làng, cắm chông,
rèn khí giới. Thanh niên Ba Làng được luyện
tập vơ nghệ và sẳn sàng ứng chiến với
Văn Thân bất cứ lúc nào và nơi nào trong miền Nam
địa phận Thanh Hóa, nếu Văn Thân đến
đốt phá làng của họ và các xứ đạo lân
cận.
Đời cha già Ngọc làm chính xứ và cha già Ngũ
làm phó xứ (khoảng năm 1900) đă có nhiều cuộc
binh tiến ra Thượng Chiểu, Phúc Lăng, Ḥa Yên
(thuộc địa phận Thanh Hóa), để giải vây
cho các xứ đang bị Văn Thân quấy phá.
Sau đây ta hăy lắng nghe các cụ già kể lại
qua bài vè Văn Thân:
Ba năm tụ nhất tháng giêng,
Văn Thân làm 'giặc' nổi lên tứ bàng,
'Giặc' này cũng có các Quan.
Đốt phá trong làng thật là đạo dân,
Cụ Phó tức giận bừng bừng
Truyền cho ba họ luyện quân một ngày
Làng Doanh tiền quân cũng hay.
Ngoại Hải ta rầy đi đạo Trung Quân
Như Áng hậu quân là xong,
Lại chọn quân tiến ở trong Ba Làng
Ba năm thất thủ giặc tàn
Vợ con về ấy chẳng c̣n chút chi
Kéo ra Thượng Chiểu một khi......
Trong các cuộc hành quân ngăn ngừa Văn Thân
quấy phá của dân Ba Làng, người ta phải công
nhận ḷng can đảm, chí phấn đấu của
mọi người từ đàn bà trẻ con, từ ông già
bà lăo, đến các thanh niên, mọi người
đều một ḷng cương quyết bảo vệ
làng xóm và bảo vệ đức tin của người
Công Giáo. Dẫn đầu tiền quân chống Văn Thân
là ông Đốc Kết (tục gọi là Quận Sắt),
một con người lăo luyện có sức khỏe lạ
thường. Người ta kể lại: có một
lần đi qua núi Thủi, ông thấy có hai tảng đá
lớn trông đẹp mắt, liền cắp hai nách hai cái
đem về để dưới cây bàng trước
cửa làng cho đồng bào ra đó ngồi hóng mát trong
những buổi trưa hè nóng nực. Bên cạnh ông
Đốc Kết, phải kể đến ông Cố
Hậu, đă một lần dẫn toán quân Ba Làng ra
giải vây cho Thượng Chiểu, Phúc Lăng thuộc
quận Quảng Xương và chém đầu tướng
giặc ở chợ Cồng.
Như Áng hậu quân phải nói đến ông cố
Phúc, xử dụng súng thần công đại bác - khẩu
súng này đă làm cho địch quân mất tinh thần
hoảng chạy nhiều lần.
Nhờ tinh thần chiến đấu hăng say,
nhờ ḷng cương quyết bảo vệ đức
tin và làng xóm, dân Ba Làng không những đă lướt
thắng được Văn Thân quấy phá, mà c̣n bảo
vệ hữu hiệu cho các làng Công Giáo lân cận nữa.
III- BA LÀNG TỪ THỜI KỲ KIẾN THIẾT
ĐẾN HIỆP ĐỊNH GENEVE
Sau những năm lao lung vất vả v́ bị cấm
đạo và bị Văn Thân bách hại, dân Ba Làng bắt
đầu kiến thiết xứ sở và làng xóm. Ba ngôi
thánh đường nguy nga rộng lớn đă
được xây dựng để có nơi khang trang mát
mẻ cho bổn đạo đến đọc kinh xem
lễ.
Cuộc sinh họat của dân chúng có vẻ náo nhiệt
và sầm uất:
Trên Thiên Đàng có sao Bắc Cực
Dưới nhân gian có đất Ba Làng
Điạ tịch như phong cảnh vẻ vang,
Ḷng nhân ngăi ra như đàng phú túc
Ở đây là như xứ mục xứ ốc doanh
cơ,
Rất vui thay về tuyết tháng Tư
Thuyền đánh cá đông như đàn kiến
Trước cửa làng núi Mê, núi Biện,
Tả hửu sơn những miếng (?) chầu vào
Trẻ vui chơi đông đúc làm sao
Người đi lại ra vào cũng lắm
Ba cây Thánh Giá trồng trên băi trắng.
Ba cây trồng cao phẳng bằng nhau
Mỗi một làng lại có một cây
Hợp như chữ: Tam cầu sở nguyện.
(Vè Ba Làng)
Như trên ta thấy cuộc sống ở đây có
một mức sống khá đầy đủ. Ngoài ra,
về phương diện tinh thần, có tiểu chủng
viện được các cha Thừa Sai xây cất theo một
lối kiến trúc tân kỳ để đào tạo các
vị linh mục trong tương lai. Cộng vào đó là
phong cảnh đẹp, quyến rủ những du khách
thập phương về đó nghĩ mát trong những
ngày hè oi ả. Khách ở xa tới vào những ngày trong tháng
Hoa Đức Mẹ (tháng 5 dương lịch) chắc khó
ḷng rời gót, v́:
Thật là nơi đạo đức khôn ngoan
Xem như thể Thiên Đàng chốn ấy.
(vè Ba Làng)
Phong cảnh Ba Làng c̣n được tô điểm thêm
bằng những rặng phi lao xanh mát chạy dài theo bờ
biển và những cây xoan tây đỏ chói rung rinh trong
nắng sớm.
Ba Làng phải nói là một nơi nghĩ hè lư
tưởng v́ ở đây có muôn chim ca hót, điểm
tiếng sáo diều ai vi vu trên không trung, có băi cát trắng
mịn màng dẫn đưa tới bờ nước
Đại Dương hiền ḥa không vực thẳm.
Đi dạo trên băi biển Ba Làng vào những buổi b́nh
minh vừa ló dạng, người ta cảm thấy tâm
hồn lâng lâng như lạc vào cảnh Bồng lai của
hạ giới.
Sau đây ta hăy nghe Ngô Nghĩa Tử tả cảnh
biển Ba Làng trong bài 'con thuyền lư tưởng':
Sớm hôm nay tôi đi trên bờ biển
Hớp gió lành và tắm ánh b́nh minh.
Ngoài xa khơi biển nhấp nhánh mông mênh,
Có mây trắng, non xanh, và buồm nâu thấp thoáng.
Ḷng tôi thấy rạt rào nguồn mỹ cảm.
Non xanh kia là những bát cao lâu,
Mây đỉnh non từng chùm trắng phau phau
Là hơi cao lâu bốc lên nghi ngút;
Mâm lóng lánh là biển vàng bát ngát
Và buồm kia là những cánh ruồi bay
Đang đi t́m hương vị của mê say
.....................
Tác giả đă thi hóa cảnh trên mặt biển là
một bàn ăn đầy hương vị và những
cánh buồm nâu kia là những con ruồi thèm khát đang di
chuyển trên mặt phẳng mênh mông.
Thứ
Nhất Ṭa Thánh Rôma
Thứ Nh́ Cửa Bạng
Thứ Ba Thần Phù
Cửa Bạng - cửa của con sông Bạng
đổ ra biển - sau được đổi tên là
xứ Ba Làng, thuộc địa phận Thanh Hoá, là một
xứ đạo lớn nhất của tỉnh ThanhHoá.
Trong thời gian số giáo hữu chưa
được đông đúc, th́ tỉnh ThanhHoá thuộc
địa phận Tây Đàng Ngoài, tức điạ
phận Hà Nội. Theo giáo sử, từ 1659-1679, điạ
phận Đàng Ngoài gồm hai điạ phận:
Điạ phận Tây (Hà Nội) bao gồm Phát Diệm,
Thanh Hoá, Vinh vàHưng Hoá; và điạ phận Đàng
Đông (Hải Pḥng), bao gồm Bùi Chu, Thái B́nh, Bắc Ninh
và Lạng Sơn.
Đến năm 1901, điạ phận Thanh Hoá
được thành lập, và BaLàng vẫn là giáo xứ
lớn nhất của địa phận.
Câu ca dao trên nói lên điạ vị của xứ
Cửa Bạng(Ba Làng). Vậy Ba Làng, Thanh Hoá
được nhiều người biết đến v́
những lư do nào?
Theo thiển ư của kẻ viết bài này, th́ Ba Làng
thuộc điạ phận Thanh Hoá, đă được
nhiều người biết đến v́ những lư do sau
đây:
1) Ba Làng là nơi vị thưà sai đầu tiên, cha
Alexandre de Rhodes đặt chân lên đầu tiên trong
cuộc hành tŕnh đi rao giảng Tin Mừng cho dân tộc
Việt Nam.
2) Điạ điểm rất đẹp của Ba
Làng và sự buôn bán phồn thịnh.
3) Trường Bảng Ba Làng về sau phát triển
thành tiểu chủng viện Thánh Giuse Ba Làng (11), nơi
đào tạo những linh mục lỗi lạc.
Giáo sử cho biết: cha Alexandre de Rhodes (1591-1660), linh
mục thừa sai, ḍng Tên, thuộc quốc tịch Tây Ban
Nha, trong cuộc hành tŕnh trên chiếc tàu buôn Tây Ban Nha, khi
đang ngoài khơi hải phận Việt Nam, định
hướng vào cửa Thần Phù để ra Bắc Hà,
th́ ngày 17/3/1627 gặp cơn băo lớn nổi lên trên
biển Nam Hải. Mọi người trên tàu lo sợ và
t́m mọi cách để ghé tàu vào đất liền, nên
nhắm một ngọn núi lấy hướng, tức là
ḥn Mê. (Một ḥn đảo cách Ba Làng chừng vài chục
cây số). Cha Alexandre và một vị truyền giáo khác
đêm ngày không ngớt cầu xin và trông cậy sự
bầu cử của Thánh Cả Giuse. Chiều ngày 19/3/1627,
ngày lễ kính Thánh Cả Giuse, khi hai vị thừa sai
đầu tiên chèo một con thuyền vào cửa Bạng,
để bắt đầu việc giảng đạo,
các đấng nh́n thấy trên một tảng đá lớn
nằm lồ lộ giữa gịng sông, h́nh một cây thánh giá
vẽ bằng vôi, mà không biết do bàn tay nào vẽ trên
đó. Các đấng liền nghĩ rằng: đây là
dấu Chúa cho biết Thánh Giá một ngày kia sẽ hiển
trị trên đất nước này. Nhưng trước
khi đến ngày hiển thánh ấy, sẽ có bao nhiêu
đau khổ, bao nhiêu mồ hôi nước mắt và máu.
V́ được sự của Thánh Giuse, hai vị
truyền giáo đă tới được đất
liền b́nh an, v́ thế các Ngài đă chọn Thánh Giuse làm
thánh quan thầy cho xứ truyền giáo này. Trong kinh Thánh
Giuse mà chúng ta vẫn thường đọc, nhắc
tới sự tích này: "Vậy chính ngày lễ ông thánh
Giuse, th́ đấng làm thầy giảng đạo đă
được sang nước Việt Nam mà đem tin lành
cho chúng tôi biết Đấng sinh nên muôn vật, cùng
biết ơn Đức Chúa Yesu chuộc tội thiên
hạ. Nhân v́ sự ấy, các bổn đạo
nước này đă chọn lấy ông Thánh Giuse làm quan
thầy chung....."
Cũng để ghi nhớ biến cố này, một
tiểu chủng viện được thiết lập
tại Cửa Bạng, được đặt tên là
Tiểu Chủng Viện Thánh Giuse (11), để nói lên ḷng
tin tưởng vào sự bầu cử thần thế
của Thánh Giuse trước Chúa, và cũng để
kỷ niệm hai nhà truyền giáo đầu tiên đă
đặt chân trên mảnh đất yêu quư Cửa Bạng
của chúng ta.
Thành quả, hơn 300 năm sau khi hai nhà truyền giáo
đầu tiên đặt chân lên, mầm mống
đức tin đă nẩy nở và phát triển mạnh
mẽ trên đất Cửa Bạng, mặc dầu đă
phải trải qua nhiều cơn sóng gió: năm 1772, sau khi
Trịnh-Nguyễn phân tranh, th́ loạn Tây Sơn nổi lên,
đóng đồn ở núi Văn Liễn, cách Cửa
Bạng chừng 6 cây số. Họ Cửa Bạng bị
quân Tây Sơn tàn phá, giáo dân phải chạy qua sông Bạng,
hoặc vượt núi Thủi về phiá Bắc, hoặc
qua núi Do vào phía Nam để lánh nạn...... Trong thời
kỳ Văn Thân cấm đạo gay gắt, giáo dân Ba Làng
lại trải qua những ngày tang tóc và đau
thương. Quả thực như lời sử gia
Tertulien đă nói: "Máu tử đạo là hạt
giống sinh ra người tín hữu". Sau những gian
nan thử thách, giáo dân Ba Làng càng tăng trưởng mau
lẹ. Hạt giống đức tin đă lan rộng sang
các vùng lân cận như Thượng Chiểu, Hoà Yên,
Giảng Tín, Thái Yên, Biện Sơn...... Những điạ
điển này, trước tiên là những họ
đạo, trực thuộc giáo xứ Ba Làng, sau này đă
trở thành những giáo xứ biệt lập, ngoại
trừ Biện Sơn, một hải đảo nằm
về phiá Đông Nam Cửa Bạng, cách Ba Làng chừng 10
cây số, vẫn là họ đạo của giáo xứ.
XỨ BA LÀNG THUỘC HUYỆN TĨNH GIA, THANH HOÁ.
ĐỊA
H̀NH
Phía Bắc được án ngữ bởi ḥn núi
Thủi, một ḥn núi trọc với cây cối thưa
thớt. Người ta có thể đi bộ băng qua
truông núi Thủi, tới xóm Ṃ phía Bắc, và tiếp tục
theo đường bờ biển đi tới
Thượng Chiểu, một xứ đạo cách Ba Làng 4km
và tới Hoà Yên, xứ đạo cách Ba Làng 8km. Xứ Hoà
Yên nằm sát con sông Ghép. V́ sông Ghép lớn, không thể
bắc cầu, xe cộ phải qua sông bằng phà.
Phía Tây núi Thủi có nhiều cây cối và đồng
cỏ, v́ thế nhà xứ Ba Làng đă khai thác thành một
trại để cấy lúa với diện tích chừng
mười mẫu, gọi là trại cụ. Sát
dưới chân núi Thủi về phía Tây Nam là xóm Sung Măn
Thượng (Xóm Trại), là phần đất có chiều
ngang rộng nhất (từ sông Bạng ra biển). Dân
cư ở đây có thể cấy luá và trồng khoai. Có
mấy gia đ́nh nuôi ḅ và dê.
Trong khu Sung Măn Thượng, có nghĩa điạ
của xứ Ba Làng và có tiểu Chủng Viện Thánh Giuse.
Phía Nam Ba Làng là Xóm Mới và làng Do Xuyên, làng Do Xuyên về
phiá Đông-Nam được án ngữ bởi núi Do. Cây
cối cũng thưa thớt như núi Thủi.
Lạch Bạng nằm sau núi Do. Nối liền với
sông Bạng. Nhà truyền giáo đầu tiên, cha Alexandre de
Rhodes đă theo cửa con sông này vào đất liền
giảng đạo.
Con sông Bạng chạy dọc phía Tây Ba Làng. Sông này có
nhiều khúc được nối tiếp bằng
những con kênh để thuyền bè có thể giao thông
với tỉnh Thanh Hoá (cách Ba Làng 40km) và những vùng
sản xuất lúa gạo lớn nhất tỉnh là Nông
Cống và Phủ B́nh.
Phía Đông Ba Làng là biển Nam Hải. Xa xa ngoài khơi
chừng 20km được án ngữ bởi Ḥn Mê, Ḥn Bung.
Và phía Đông Nam, gần đất liền, có ḥn Biện Sơn,
Biện Sơn là một họ đạo thuộc xứ
Ba Làng. (*)
V́ ba phía được án ngữ bởi núi, nên băi
biển Ba Làng rất bằng phẳng và êm sóng. Dọc băi
biển thuyền bè đậu chi chít.
Muà hè cảnh sinh hoạt trên băi biển tấp nập
như chợ. Nào những đám lưới Me
(lưới Rồng) kéo ngang băi biển như những con
rắn khổng lồ; nào những thuyền bè đi
về đầy những cá đang chuyển lên bờ.
Người đông như họp chợ. Trên băi cát khô,
những hàng cột rường được dựng
ngổn ngang, để phơi lưới. Mọi buổi
tối băi biển lại thêm nhộn nhịp cảnh người
ngồi hóng mát.
Diện tích xứ Ba Làng rất chật hẹp.
Chiều dài chừng 2km. Chiều ngang chổ rộng
nhất chừng 2km (Xóm Sung Măn Thượng) và chổ
hẹp nhất chừng 1/2km (Ngoại Hải).
Xóm Sung Măn Thượng nằm về phía Bắc. Dân
số không được đông, phần lớn sống
bằng nghề trồng trọt, chăn nuôi, chỉ có
một số ít sống bằng nghề biển.
Xóm này có một nhà thờ nhỏ, nhà thờ Chúa Kitô Vua.
V́ gần tiểu Chủng Viện thánh Giuse, nên mỗi
chủ nhật thường có một cha ở chủng
viện ra làm lễ ở đó.
Họ Ngoại Hải kế tiếp xóm Sung Măn Thượng
chạy dài theo biển. Phần đất chiều ngang
hẹp. Họ có một nhà thờ kính Thánh Giuse, nằm
ngang trên băi biển. Những khi sóng lớn, thường
làm soi cả chân nền nhà thờ. V́ thế mỗi năm
các thuyền trong họ thường tập trung đi
chở đá về đổ chung quanh khu vực nhà
thờ để giử khỏi lở đất.
Về mặt kinh tế, họ Ngoại Hải giàu
hơn các họ khác. Đặc biệt là có nhiều
thuyền gơ và nhiều ghe chở nước mắm đi
bán các nơi.
Họ Ngoại Hải đă sản xuất nhiều
linh mục cho địa phận. Vị linh mục tiên
khởi của xứ Ba Làng, xuất thân từ họ này,
là cha chính An.
Kế tiếp họ Ngoại Hải là họ Sung Măn.
Họ này lớnh nhất xứ Ba Làng. Nhà thờ chính
xứ và cha sở ở trong khu vực của Họ. Có hai
nhà thờ: Một nhà thờ lớn là nhà thờ
Đức Bà, cất theo kiểu cổ, có tháp giống
như tháp chùa. Trong nhà thờ có những cột gỗ lim
lớn. Sau này, v́ số trẻ con phát triển quá đông,
nên xứ cất thêm một nhà thờ dành cho giới
trẻ. Nhà thờ Kính Chuá Yesu Yêu Các Trẻ Nhỏ (12).
Vị trí nhà thờ nằm ngang hàng với trường
tư thục xứ Ba Làng.
Trường tư thục xứ là một dăy nhà xây
lợp ngói, có sáu pḥng lớp. Chương tŕnh từ
vỡ ḷng đến tiểu học, dành riêng cho giới
nam. Phiá Đông của trường có một sân vận
động để học tṛ có thể đá banh.
Xứ Ba Làng c̣n có một trường dành cho giới
nữ. Nằm sát nhà ḍng Mến Thánh Giá. Các chị nhà ḍng
phụ trách việc giáo huấn.
Theo quan niệm của cha ông ngày trước: trọng
nam khinh nữ. Đàn bà, con gái, bổn phận chính lo
việc nội trợ trong nhà, nên thường giới
nữ chỉ học hết cấp sơ học.
Nhà cha sở của xứ, nằm phiá sau nhà thờ
Đức Bà, là một nhà xây hai tầng, lợp ngói. Nhà khá
lớn, v́ trước kia dùng để huấn luyện
một số chủng sinh, mới bắt đầu tu tŕ,
gọi là trường Bạng Ba Làng. Cùng chạy hàng dài
với nhà này là một dăy nhà lợp bằng lá kè,
tường trát vôi, là khu nhà dành cho các tu sĩ và là khu nhà
bếp.
Chung quanh nhà xứ có vườn rất rộng,
trồng luá miến để làm bánh lễ. Nhà xứ
thường có ba cha, một cha chính và hai cha phó. Từ khi
thành lập xứ th́ có cha già Sĩ là cha chính xứ. Kế
đến có cha già Thanh và cha già Hiền. Xứ
thường có hai hoặc ba thầy giảng giúp các cha
trong việc nhà thờ và dậy học. Trong số các thày
giúp xứ có bố già Khanh là nổi tiếng nhất. Ông là
người rất giỏi về âm nhạc (13). Có óc
tổ chức nên đă giúp ích rất nhiều trong việc
giáo dục giới trẻ. Nhất là giúp hội ca vịnh
của xứ rất nhiều.
Kế tiếp họ Sung Măn là họ Như Xuân. Dân
số ít hơn các họ khác. Người ta cũng gọi
là Đồng Pho, v́ có nhiều người từ làng
Đồng Pho, bên kia sông đến lập nghiệp.
Họ có một nhà thờ kính thánh Phêrô nằm ngang giữa
làng.
Họ này có tính hay nghịch ngợm và ương
ngạnh (3a), nên mỗi lần rước kiệu chung
với xứ, thường có những tổ chức khác
người, như đội nón lộn vành, đội
trống nhẩy. (4a)
Từ trước đến nay, họ mới chỉ
có một linh mục là cha Nguyễn viết Hiền.
SINH HOẠT TÔN GIÁO
Cũng như
hầu hết các giáo xứ ở ViệtNam, Ba Làng là
một trường sinh hoạt về tôn giáo rất
rầm rộ. V́ dân số Ba Làng đông, lại sống
gần nhau, nên sự sinh hoạt rất là mạnh mẽ
và thường xuyên.
Hàng ngày, sớm chiều, sau khi chuông nhà thờ báo
hiệu, ngoài đường lũ lượt những
người kéo về nhà thờ xứ để dự
lễ ban sáng và đọc kinh tối.
V́ dân trong xứ có ḷng yêu mến Đức Mẹ, nên
mỗi tối thứ Bảy, số giáo dân tụ họp
đến nhà thờ rất đông để làm việc
kính Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp và chầu Phép Lành.
Chủ Nhật từ 3 giờ sáng đă có chuông báo hiệu,
các bậc phụ huynh lũ lượt kéo đến nhà
thờdự lễ. Đường xá tấp nập
như ngày hội. Nhà thờ không đủ chổ nên
đồng bào phải ngồi chật ních các sân nằm hai
bên hông nhà thờ. Lễ 4 giờ sáng chỉ dành riêng cho
người lớn.
Những ngày lễ như lễ Phục Sinh, Hiện
Xuống, Mông Triệu, Các Thánh và Giáng Sinh là những ngày
lễ lớn của xứ. Trước lễ mấy
ngày, giáo dân đă đến nhà thờ đông nghẹt
để xưng tội dọn ḿnh mừng lễ. V́ là
những ngày lễ nghĩ việc. nên số người
đến nhà thờ rất đông. Thường trong
những dịp này, trước cổng nhà thờ có
những hàng bày bán ảnh tượng và các đồ
ăn như thịt, bún..... để đồng bào mua
ăn mừng lễ. Trong làng xóm th́ nhộn nhịp ăn
nhậu như ngày tết.
Hai hội đoàn hoạt động mạnh mẽ
nhất trong xứ là hội Ca Vịnh và hội Nghĩa
Binh Thánh Thể. Cứ mỗi thứ Năm trong tuần có
một lễ riêng cho hội NBTT.
Những dịp đặc biệt trong năm là Mùa Chay
và tháng Đức Bà. Trong mùa Chay thường tổ
chức ngắm Sự Thương Khó. Riêng ngày thứ Sáu
ăn chay, buổi trưa các nhà thờ trong xứ
đều tổ chức ngắm Rằng, trước khi
ăn cơm chay. Các phụ huynh có những lớp học
Giáo Lư và Kinh Bổn để qua các cuộc thi vào dịp
gần lễ Phục Sinh. Giới trẻ thi kinh bổn vào
dịp lễ Các Thánh. Dịp thi kinh bổn là những
dịp các Họ thi đua với nhau. Những họ nào mà
trúng giải nhất nhiều th́ rất hănh diện, chuông
nhà thờ Họ reo vang để ăn mừng. Tháng
Đức Bà, mỗi ngày thứ Bảy, một họ trong
xứ tổ chức rước kiệu của Họ
về nhà thờ xứ, và kiệu của xứ (kiệu
bát cống, 8 người khiêng) sẽ nhập với
kiệu của Họ để rước chung quanh nhà
thờ. Đầu và cuối tháng Đức Bà và ngày
lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống, có kiệu hội:
Tất cả các họ đều khiêng kiệu tập
trung rước dọc bờ biển và rước về
nhà thờ Đức Bà. Thật là khung cảnh nhộn
nhịp của ngày hội lớn. Tất cả hang cùng ngơ
hẽm đều nhộn nhịp, chen lẫn tiếng
chiêng trống và tiếng chuông nhà thờ reo vang.
Mỗi năm từ tháng 11 trở đi, sinh hoạt
của xứ trở nên nhộn nhịp.
Trong tháng 11, tháng các linh hồn, hầu như sáng nào
cũng có lễ mồ cầu cho những người quá
cố, chuông nhà thờ được dịp hoạt
động mạnh mẽ. Kế đến tháng Chạp
là tháng của lễ cưới, thường
được tổ chức các sáng thứ Năm. Trên Cung
Thánh chật ních những đôi quỳ san sát để
cử hành lễ cưới tập thể. Ngoài ra c̣n có
những lễ cưới cá nhân được tổ
chức trọng thể, có ba cha đồng tế. Tháng
Chạp là tháng chuẩn bị cho tết Nguyên Đán. Các ghe
thuyền thường tổ chức giết heo ăn
tất niên, mỗi chủ ghe thường nhớ tới
cha xứ trong dịp này, nên họ thường dành cái quư
nhất trong con heo là cái thủ và một mâm gạo tấm
đem đến tết cha.
Hầu hết các gia đ́nh cũng đều nhớ
đến cha sở trong dịp đầu năm, nhà nào
cũng lo mua sắm lễ vật để đi tết
cha.... Trong những dịp này, nhà xứ không c̣n chổ
để chứa đồ ăn, nên thường mướn
nhiều người vào giúp gói gị thủ, nướng cá
để đem ra tiếp tế cho nhà chung Thanh Hoá,
hoặc biếu Chủng Viện.
V́ là những người công giáo tốt,
được các cha và các thày chú ư đến việc giáo
dục, nên nền luân lư trong xứ rất là đáng khen.
Nam nữ không có 'lộn xộn' như thời đại
chúng ta bây giờ. Nền tảng gia đ́nh rất là
vững chắc.
Dân Ba Làng có khuyết điểm lớn là hay uống
rượu 'ba-xi-đế' rất nhiều. Uống không
phải bằng ly mà uống bằng chén. Tửu nhập
th́ ngôn xuất, rượu say th́ sinh ra căi lộn.
NỀN KINH TẾ
Ba Làng có một nền kinh tế trổi vượt
hơn các làng lân cận. Nguồn lợi chính là nghề
đánh cá. Những đoàn thuyền Gơ về mùa hè đánh
đầy moi (một loại tép nhỏ) và cá Cơm ngay
trước băi biển, nhiều hôm được
đầy nhóc. Moi và cá Cơm đánh được, các
chủ ghe thường dùng làm mắm. Nhiều nhà có
đến mấy chục thùng mắm bằng gỗ
lớn. (cao chừng 2m, đường kính từ 2 -3m).
Những chiếc ghe lưới Rút đi hành nghề
rất xa. Họ thường dùng lá dừa khô làm thành cái
tổ (gọi là Răo) ở ngoài biển khơi để cá
tụ họp. Thường khi tới mùa cá Nục và
Mực, các ghe đi biển rất khơi và ở luôn ngoài
biển 4 - 5 ngày bao giờ ghe đầy cá mới về
(1a). V́ ghe hoạt động xa bờ, nên mỗi khi có băo
lớn, phần nhiều ghe thuyền bị đắm và
nhiều người chết, như năm 1952, vào dịp
lễ Đức Bà Hồn Xác lên trời, bị tố
lớn, có tới hàng trăm người chết ngoài
khơi! Đi lễ trong nhà thờ thấy trắng xoá
những vành khăn tang. (2a)
Những nghề khác như lưới Me, lưới
Bè, câu Kiều, câu chăng.... thường cung cấp cá
tươi để ăn. Những cá đánh
được, một số lớn dùng làm mắm, ngoài ra
một số ít dùng phơi khô hoặc được các
nhà buôn đem bán các chợ bên kia sông Bạng, hoặc
đổi lấy những nông sản như khoai và đậu,
cứ đến mùa khoai, dân Ba Làng sang các làng lân cận
như làng Nở, làng Chay, làng Xă Liễng gánh về biết
bao là nông sản.
Nguồn lợi chính của Ba Làng là đi bán
nước mắm. Hàng ngày có nhiều người gánh
mắm đi bán lẻ ở các làng lân cận, hoặc
ở chợ Cồng, chợ Bạng.
Những ghe mành lớn, đậu dọc bờ sông
Bạng, để tải nước mắm đi bán
ở Hà Nội, Hải Pḥng, Phát Diệm mỗi năm
đem về cho Ba Làng nhiều tài chánh. Những đoàn ghe
nhỏ hơn, chở mắm đi tận các trung tâm
sản xuất lúa gạo trong tỉnh như Nông Cống,
Phù B́nh, Bái Thượng..... để đổi lấy
luá. Những nhà khá giả ở Ba Làng, nhà nào cũng có
những vựa lúa cót cao, không khác ǵ những nhà nông cấy
hàng chục mẫu ruộng.
Hàng ngày có chợ họp buổi chiều trong làng
để buôn bán thức ăn, vật dụng
thường. Đó là không kể các chợ Phiên: ngày
chẳn có chợ Bạng và ngày lẻ có chợ Cồng.
Những chợ Phiên này khá lớn.
Ba Làng ở vào một địa thế thuận
lợi cho việc giao thông, buôn bán, trên sông dưới
biển, dân số lại đông đúc, nên sự sinh
hoạt rất là sầm uất, nhất là về hoạt
động tôn giáo nên mới có câu tục ngữ:
Thứ nhất ṭa thánh Rôma
Thứ nh́ cửa Bạng (Ba Làng)
Thứ ba Thần Phù. (huyện Nga Sơn, Thanh Hoá,
nơi có động Từ Thức)
Ghi chú
(*) Họ đạo này, bổn đại rất
đơn sơ chất phát. Có câu chuyện kể rằng
trong một tuân “Làm Phúc”, Cha Già Hiển đă
đưọc mời ăn tiết canh như sau: “Mời
cha xơi bát tiết canh cho mát ruột rồi làm lễ”.
Không biết Cha Già Hiển đă trả lời ra sao.
Cũng nên chú ư rằng trong tḥi đó, “chay Thánh Thể”
rất là ngặt: muốn rước lễ, phải
giữ chay bắt đầu từ nửa đêm, không
được uống dù là một giọt nước.
(1a) Thường gọi là đi “Lưới Rút”.
(2a) Cũng trong vụ băo này, gia đ́nh Cha Trịnh Thê
Hùng, tại Sung Măn có vài người anh đi lưới
bị bạt vào tới Cửa Ṛn, Nghệ An. Hơn
tuần lễ sau các người anh đó mới trở
về tới nhà với sự sửng sốt và vui
mừng của gia đ́nh và toàn xứ, sau khi Cha Xứ (Cha
Già Hiển) đă làm lễ cầu hồn và gia đ́nh
đă làm lễ phát tang, khóc hết nước mắt trong
suốt tuần lễ vừa qua.
(3a) Các thanh thiếu niên tinh quái của các Họ khác
vẫn mỉa mai giới trẻ của Họ Như Xuân:
“Như Xuán là quân ăn cướp”. Nhưng giới
trẻ Họ Như Xuân cũng không vưa, họ
đối lại với Họ Sung Măn - tục gọi là
Làng Danh – bằng những từ ngữ không thanh tao
mấy: “Làng Danh ăn chanh c. chó”; đối với Họ
Ngoại Hải: “Ngoại Hải thi giải ra quan”;
đối với Xóm Sung Măn Thượng – cũng gọi
là Xóm Trại: “Xóm Trại th́ dại cả đời”.
(11) Cũng được gọi là Trường La
Tinh.
(12) Theo một số ngựi hiện nay biết rơ Nhà
Thờ nhỏ này th́ tên Nhà Thờ này gọi là Nhà Thờ
Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Đây cũng có hội quán –
nơi hội họp cho các em Nghĩa Binh, Trung Binh, Thanh
Thiếu Niên và Liên Đoàn Cóng Giáo.
(13) Một bài hát do Ông sáng tác rất thịnh hành trong
Xứ Đạo, bài “Đức (i) Mẹ là Mẹ hiển vinh.
Con xin Đức Mẹ dủ t́nh..). Ngoài ra, Ông c̣n rất lăo
luyện về thuật thôi miên.